Nước biển dâng là gì? Các công bố khoa học về Nước biển dâng

Nước biển dâng là hiện tượng tăng mực nước biển so với mực nước biển trung bình trong một khoảng thời gian nhất định. Hiện tượng này thường xảy ra do thay đổi c...

Nước biển dâng là hiện tượng tăng mực nước biển so với mực nước biển trung bình trong một khoảng thời gian nhất định. Hiện tượng này thường xảy ra do thay đổi của các yếu tố như sự kiểm soát thời tiết, hoạt động vận tải trên biển, sự biến đổi của địa hình, hiện tượng El Niño và biến đổi khí hậu. Nước biển dâng có thể gây ra nhiều tác động như lụt lội, xâm nhập mặn, sình lầy và nghiêm trọng hơn là làm tăng nguy cơ mất mát đất đai và những ảnh hưởng đối với sinh thái biển và đời sống của con người.
Nước biển dâng là quá trình tăng mực nước biển trên toàn thế giới. Hiện tượng này được ghi nhận và theo dõi thông qua hệ thống đo lường mực nước biển ở các bãi biển và các trạm đo trên khắp hành tinh.

Có một số nguyên nhân dẫn đến nước biển dâng, bao gồm:

1. Nhiệt đới hóa: Sự tăng nhiệt độ toàn cầu đang gây nên nhiệt đới hóa, là quá trình làm tăng nhiệt độ bề mặt biển. Khi nhiệt độ biển tăng, thì nước biển dãn nở và mực nước tăng lên.

2. Nước đá tan chảy: Sự nóng lên toàn cầu cũng đang làm tan chảy nhanh chóng các mô cao như băng trên Bắc Cực và Nam Cực. Khi nước đá tan chảy, nó trở thành nước biển và góp phần làm tăng mực nước biển.

3. Địa tĩnh học: Hiện tượng núi đồi địa phương và thiên tai có thể ảnh hưởng đến nước biển dâng. Chẳng hạn, sự di chuyển của các bảng đá lớn hoặc động đất có thể làm thay đổi mực nước biển cục bộ trong một thời gian ngắn.

4. Sự biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu có thể gây ra sự thay đổi đáng kể trong mực nước biển. Việc tăng nhiệt độ và làm tăng lượng nước nóng trong hồ quốc tế cũng có thể góp phần làm tăng mực nước biển.

Nước biển dâng có thể gây ra nhiều tác động đáng kể đối với con người và môi trường biển. Những hệ quả tiềm ẩn bao gồm lụt lội ở các khu vực ven biển, xâm nhập mặn vào nguồn nước ngọt, sình lầy và nứt đất, điều này có thể ảnh hưởng đến nhiều cấu trúc và đồng cỏ ven biển. Nước biển dâng cũng có thể góp phần vào giảm diện tích đất đai và đảo biển, gây mất mát môi trường sống và những sự thay đổi nghiêm trọng cho hệ sinh thái biển.

Danh sách công bố khoa học về chủ đề "nước biển dâng":

Đặc điểm bất thường heli trong nước ngầm phản ánh sự thay đổi biến dạng trong trận động đất Kumamoto năm 2016 ở Tây Nam Nhật Bản Dịch bởi AI
Scientific Reports - Tập 6 Số 1
Tóm tắt

Việc giám sát địa hóa nước ngầm và khí thải từ đất đã chỉ ra các dị thường tiền vệ và/hoặc đồng xảy ra của khí quý liên quan đến động đất, nhưng chưa có cơ sở lý hóa hợp lý. Một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm về việc khởi động phá đá và sự phát thải khí quý đã được thực hiện, nhưng không có mối liên hệ định lượng giữa kết quả trong phòng thí nghiệm và quan sát thực địa. Chúng tôi báo cáo về những dị thường heli trong nước ngầm liên quan đến trận động đất Kumamoto năm 2016, đây là trận động đất trong lục địa với đứt gãy trượt và tâm chấn nông (độ sâu 10 km) gần các khu vực đông dân cư ở Tây Nam Nhật Bản. Những thay đổi đồng vị heli được quan sát ngay sau trận động đất có mối liên hệ định lượng với những thay đổi biến dạng thể tích được ước tính từ một mô hình đứt gãy, điều này được giải thích thông qua các nghiên cứu thực nghiệm về sự giải phóng helium trong quá trình nén mẫu đá. Heli trong nước ngầm được xem như một cảm biến biến dạng hiệu quả. Điều này gợi ý mối liên kết định lượng đầu tiên giữa quan sát địa hóa và địa chấn, và có thể mở ra khả năng phát triển một hệ thống giám sát mới để phát hiện sự thay đổi biến dạng có khả năng xảy ra trước một trận động đất nguy hiểm ở các khu vực mà thiết bị đo biến dạng giếng khoan truyền thống không khả dụng.

Mối quan hệ giữa kim loại nặng trong trầm tích nước và trong ấu trùng Chironomus của các dòng sông miền đồng bằng Bỉ và các biến dạng hình thái của chúng Dịch bởi AI
Canadian Journal of Fisheries and Aquatic Sciences - Tập 55 Số 3 - Trang 688-703 - 1998

Các mức độ của Cd, Pb, Cu và Zn đã được đo trong ấu trùng giai đoạn bốn của Chironomus gr. thummi và trong ba phân đoạn trầm tích của các dòng sông miền đồng bằng Bỉ, được chiết xuất bằng 1 M NH4-acetate, 1 M HCl và hỗn hợp 70% HNO3 - 30% H2O2. Tỷ lệ phần trăm ấu trùng bị biến dạng và độ nghiêm trọng trung bình của quần thể (MPS) cho các cấu trúc đầu đã được so sánh bằng phương pháp hồi quy Pearson và hồi quy tuyến tính và đa thức so với nồng độ kim loại trong các thành phần khác nhau. Tất cả các mối tương quan tìm thấy đều dương tính. Biến dạng mentum có mối tương quan với tất cả các phân đoạn chì (MPS) và phân đoạn đồng ở ấu trùng (tỷ lệ phần trăm biến dạng), trong khi biến dạng pecten epipharyngis có mối tương quan với các phân đoạn chì trong trầm tích và phân đoạn đồng HCl. Biến dạng premandible có mối tương quan với phân đoạn đồng HNO3-H2O2 và với các giá trị cực trị của cadmium và kẽm. Nghiên cứu đã chỉ ra một loạt các đường phản ứng biến dạng đối với các kim loại vết. Ở một địa điểm, nồng độ chì cao hơn được tìm thấy trong ấu trùng có mentum bị biến dạng, so với ấu trùng bình thường. Biến dạng mentum dường như là các dự đoán tiềm năng về mức độ chì trong trầm tích và ấu trùng, trong khi biến dạng pecten epipharyngis có thể là một chỉ báo về chì và đồng trong trầm tích.

#kim loại nặng #trầm tích nước #ấu trùng Chironomus #biến dạng hình thái #đồng bằng Bỉ
Đánh giá ảnh hưởng của mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến mực nước triều ven biển miền Trung
Tóm tắt: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thường được đánh giá dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai và được biểu hiện qua các biến động của nhiệt độ không khí, lượng mưa, mực nước biển dâng và các tác động khác (UNEP, 2009). Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của mực nước biển dâng đến mực nước triều vùng ven biển miền Trung. Mô hình mô phỏng thủy triều cho khu vực biển miền Trung được áp dụng với các kịch bản nước dâng. Kết quả tính toán cho thấy rằng dao động thủy triều biến đổi rõ nét với các vùng có biên độ lớn ở phía bắc miền Trung. Tại những vùng này, mực nước biển tăng do biến đổi khí hậu làm cho biên độ dao động tăng lên và làm chậm pha dao động. Tại các vùng phía nam miền Trung, biên độ triều lại giảm. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa tham khảo cho các nhà nghiên cứu, quản lý và kỹ thuật khi quan tâm đến mực nước tổng cộng trong tương lai tại các địa phương của miền Trung.Từ khóa: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thủy triều miền Trung. 
MÔ PHỎNG ẢNH HƯỞNG CỦA MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH ĐÁY VÙNG VEN BỜ CỬA SÔNG MÊ KÔNG
Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu dự báo biến động địa hình ở vùng ven bờ châu thổ sông Mê Kông dưới ảnh hưởng của nước biển dâng. Để thiết lập mô hình tính, các chuỗi số liệu quan trắc đã được thu thập, xử lý hệ thống và đồng bộ cho các điều kiện biên (sông, biển) của mô hình dạng chuỗi số liệu (time serial data). Các biên mở phía biển của mô hình được tạo ra bằng phương pháp lưới lồng (NESTING) từ mô hình có miền tính rộng hơn ở phía ngoài. Mô hình Delft3D với 4 lớp độ sâu theo hệ tọa độ Sigma đã được thiết lập và kiểm chứng cho thấy có sự phù hợp với số liệu đo đạc. Kết quả dự báo trong mùa cạn và mùa lũ đã cho thấy sự dâng cao mực nước biển do biến đổi khí hậu làm hạn chế sự phát tán của dòng trầm tích về phía biển và tập trung di chuyển quanh các cửa sông. Qua đó làm tăng tốc độ bồi tại các bãi bồi khu vực phía ngoài các cửa sông phía nam của vùng ven bờ châu thổ sông Mê Kông. Những ảnh hưởng do dâng cao mực nước biển đến địa hình đáy ven bờ châu thổ sông Mê Kông phổ biến diễn ra trong phạm vi khoảng 7 -       10 km từ cửa sông ra phía ngoài. Ở phía ngoài 10 km từ bờ ra, ảnh hưởng do dâng cao mực nước đến địa hình đáy hầu như không đáng kể.
#Morphological change #Mekong river #model #sediment transport #sea level rise #Delft3D.
TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN CHẾ ĐỘ THỦY TRIỀU DỌC BỜ BIỂN VIỆT NAM
Các đặc trưng của chế độ thủy triều vùng ven bờ được hình thành bởi sự cộng hưởng của các sóng triều thiên văn truyền từ biển khơi vào vùng nước nông dưới tác động của địa hình theo phương ngang (quy mô thủy vực) và phương thẳng đứng (độ sâu). Như vậy, nước biển dâng do biến đổi khí hậu mà làm thay đổi độ sâu và quy mô của biển sẽ dẫn tới thay đổi các đặc trưng thủy triều. Mô hình ROMS (Regional Oceanography Modeling System) đã được sử dụng để nghiên cứu tác động của nước biển dâng đến chế độ thủy triều dọc bờ biển Việt Nam. Mô hình được kiểm định với chế độ thủy triều hiện tại và mô phỏng với các kịch bản nước biển dâng toàn cầu là 0.5m, 0.75m và 1.0 m.Summary: The characteristics of the tidal regime in coastal areas are formed by the resonance of the astronomical tidal waves transmitted from the ocean in shallow water under the action of horizontal terrain (scale water bodies) and the straight vertical (depth). Thus, sea level rise due to climate change that would alter the depth and scale of the ocean will lead to changes in tidal characteristics. The ROMS model (Regional Oceanography Modeling System) was used to study the impact of sea level rise on tidal regime along the coast of Vietnam. The model was validated by using tidal current regime, and used to simulate for the cases of global sea level rise scenarios of 0.5m, 0.75m and 1.0 m.
THÍCH ỨNG VỚI NƯỚC BIỂN DÂNG: GÓC NHÌN TỪ PHÂN TÍCH CHI PHÍ – NGHIÊN CỨU TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Nghiên cứu thực hiện so sánh chi phí của hai giải pháp thích ứng với hiện tượng nước biển dâng tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm tái định cư và xây dựng đê biển, theo các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu khác nhau của thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thế kỉ 21, độ cao của phần lớn diện tích đồng bằng sông Cửu Long có thể thấp hơn mực nước biển nếu không thể tìm ra giải pháp thích ứng phù hợp. Khoảng 10 triệu người sinh sống tại khu vực này có thể chịu tác động của hiện tượng nước biển dâng vào cuối thế kỉ 21. Kết quả phân tích chi phí cho thấy, chi phí xây dựng đê biển và trồng rừng ngập mặn bảo vệ khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong thế kỉ 21 có thể lên tới 26.8 tỉ USD, thấp hơn 2.5 lần so với chi phí tái định cư. Trong đó, phần lớn chi phí được phân bổ cho các hoạt động trồng và bảo tồn hệ thống rừng ngập mặn ven biển.
#Biến đổi khí hậu #Đồng bằng sông Cửu Long #Nước biển dâng #Phân tích chi phí
Hiện trạng và xu thế biến đổi bờ biển Quảng Nam dưới ảnh hưởng của nước biển dâng
Vùng bờ biển Quảng Nam được cấu tạo chủ yếu bằng trầm tích cát, rất dễ biến đổi bởi ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên và hoạt động của con người. Việc sử dụng ảnh vệ tinh Landsat kết hợp với những tính toán trong GIS sẽ dễ dàng nhận dạng và xác định được xu thế biến đổi của bờ biển. Kết quả cho thấy, ở bờ biển Quảng Nam hoạt động xói lở và bồi tụ luôn diễn ra trong giai đoạn 1990 - 2011. Tuy nhiên, hoạt động xói lở vẫn là hoạt động chiếm ưu thế với nhiều đoạn bị xói lở, đặc biệt là khu vực cửa Đại và vũng An Hòa có xu hướng biến đổi phức tạp với tốc độ xói lở ở cửa Đại là 31,1 m/năm và vũng An Hòa là 7,3 m/năm. Mô hình Bruun đã chỉ ra mức độ xói lở bờ cao nhất tại cửa Đại và vũng An Hòa với các kịch bản các kịch bản nước biển dâng thấp và cao của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2100 là 0,65 m, 0,97 m cùng các kịch bản 3 m và 5 m.
#Landsat #GIS #nước biển dâng #bờ biển #xói lở
Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của tỷ lệ nước/ xi măng đến biến dạng co ngót của bê tông trong điều kiện khí hậu Gia Lai
Biến dạng co ngót của bê tông trên công trình là một quá trình lâu dài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Theo một số tác giả [7], [8], những yếu tố chính ảnh hưởng đến biến dạng co ngót gồm tỷ lệ nước/xi măng (tỷ lệ N/X), chủng loại xi măng, thành phần cốt liệu chế tạo bê tông, kích thước kết cấu (đặc biệt là tỷ lệ diện tích/thể tích của kết cấu), điều kiện khí hậu môi trường nơi công trình xây dựng…. Nội dung bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm đo đạc biến dạng co ngót của bê tông trong điều kiện khí hậu Gia Lai. Các mẫu thí nghiệm co ngót được chế tạo theo 03 nhóm mẫu (Bê tông thường) có cấp độ bền B25, với các tỷ lệ Nước/Xi măng (N/X) lần lượt là: 0.40, 0.45, 0.50. Các kết quả thí nghiệm thu được cho phép xác định sự phát triển của biến dạng co ngót theo thời gian và ảnh hưởng của tỷ lệ Nước/Xi măng (N/X) đến độ lớn của thành phần biến dạng dài hạn này của bê tông.
#nước biển #bê tông nước biển #tỷ lệ Nước/Xi măng #cường độ bê tông #mô đun đàn hồi
Kết quả nghiên cứu ban đầu ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến xâm nhập mặn sông Hóa-Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh có địa hình thấp nhất ở đồng bằng Bắc Bộ nên ảnh hưởng của nước biển dâng (NBD) đến xâm nhập mặn các sông trong tỉnh rất mạnh, trong đó có sông Hóa chảy qua khu vực cực Bắc của tỉnh và tiếp giáp với TP. Hải Phòng. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu mức độ xâm nhập mặn nước sông Hóa dưới ảnh hưởng của NBD bằng mô hình số. Các kết quả mô hình cho thấy chế độ xâm nhập mặn sông Hóa với lưu lượng dòng chảy trung bình ngày ở tần suất 85% và dao động mực nước triều theo giờ năm 2013, xâm nhập mặn mạnh nhất xảy ra vào tháng 1. Mặc dù xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ vào mùa khô, trong các tháng mùa khô đầu năm có rất nhiều thời điểm nước sông có hàm lượng muối thấp hơn 1ppt, có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và nông nghiệp. Ở điều kiện hiện tại của mực nước biển, trong các tháng mùa khô 1-4 xâm nhập mặn có nồng độ muối 1ppt dài nhất là 16,671km; khi NBD lên 50cm, 75cm và 100cm thì chiều dài xâm nhập mặn tương ứng là 18,059km; 18,510km và 18,959km (gia tăng tương ứng chỉ 1,388km; 1,839km và 2,288km, tương ứng lên 8,33%; 11,03% và 13,72%); chiều dài xâm nhập mặn ở kịch bản NBD=75cm lớn hơn so với NBD=50cm, và ở kịch bản NBD=100cm lớn hơn so với NBD=75cm là tương đương nhau và bằng khoảng 450m.Từ khóa: Nước biển dâng (NBD), xâm nhập mặn, sông Hóa, mô hình, EFDC.
Tác động nước biển dâng lên xu hướng mặn hóa đất trồng lúa thông qua nước tưới ở huyện Tiền Hải, Thái Bình
Tóm tắt: Do tác động của nước biển dâng, hiện tượng xâm nhập mặn xảy ra tại khu vực huyện Tiền Hải, Thái Bình thuộc hệ thống sông Hồng.Mô hình Mike 11 cho phép dự báo từ năm 2050, nước tưới lấy tại cống Kem, cách cửa sông 21 km, có độ khoáng hóa cao đến 0,074% (ngưỡng quy định mức an toàn cho cây trồng) và đến năm 2100 sẽ là 0,084%.Bằng mô hình Saltmod căn cứ vào tính chất đất và nước tưới có độ khoáng hóa cao như kết quả mô hình Mike 11 dự báo sẽ cho thấy độ mặn đất trồng lúa huyện Tiền Hải tăng lên từ 0,33 lên 0,56% ở tầng rễ cây, tăng mạnh nhất ở tầng chuyển tiếp (từ 0,36 lên 0,84%), trong khi tầng giữ nước ít thay đổi ở mức 0,35%.Bước đầu cho thấy hai mô hình Mike 11 và Saltmod có thể sử dụng để dự báo quá trình mặn hóa đất nông nghiệp các vùng cửa sông ven biển do nước biển dâng trong bối cảnh BDKH ở Việt Nam.Từ khóa: Nước biển dâng, xâm nhập mặn; mặn hóa đất; nước tưới tiêu chứa khoáng; Mike 11; Saltmod; sông Hồng; huyện Tiền Hải.
Tổng số: 45   
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5